March 28, 2020

không vô phi bất thường

không vô phi bất thường

bất ổn định

“Nó bất ổn định anh ạ”, tôi nghe một người làm việc báo cáo lại một thí nghiệm. Tự dưng tôi cảm thấy có gì đó không ổn, một phần là kết quả không như mong muốn, phần khác cách trình bày kết quả xem ra có chút khúc khắc.

Tiếng Việt là ngôn ngữ có nhiều từ mượn. Để tạo nên nghĩa của một từ, cách ghép từ rất phổ biến. Tức là nghĩa của câu tạo thành cách ghép các từ với nhau. Cấu trúc này khác với tiếng Anh khi chúng ta có thì để chia thời gian ra các mức khác nhau. Vốn từ vựng tiếng Anh cũng phong phú hơn. đơn giản Tiếng Anh cũng sử dụng nhiều từ vựng, gốc Latin, tiếng Đức cổ.

Với Tiếng Việt khi nói hoạt động, và từ để chỉ trạng thái ngược là bất động. Bất động là một từ hoàn chỉnh, được ghép nhưng có cảm giác là không ghép nữa. Các từ ghép bất, phi có nguồn từ chữ Hán. Dùng từ gốc Hán Việt vẫn tạo ra một cảm giác hàn lâm nhất định, nghe có vẻ sang. Với Tiếng Anh, có từ active and inactive, bản thân cũng là từ ghép với gốc in để chỉ trái thái ngược lại. Tiếng Anh cũng có từ not active, và đôi khi được dùng not inactive. Với Tiếng Việt không bất động, không hoạt động cũng được sử dụng nhưng nghĩa rất khác nhau.

Không hoạt động: là miêu tả thực (narrative), nó là từ ghép của tính từ chỉ trạng thái (như có/không, ít nhiều), cùng trạng thái sự việc. Không hoạt động đơn giản được hiểu là không nhìn thấy những biểu hiện của hoạt động.

Bất động: đây là danh từ, dùng để chỉ sự thiếu của hoạt động (khác với thiếu hoạt động). Nói cái gì bất động có nghĩa là ở trạng thái bình thường, vật A có hoạt động, nhưng nay thiếu vắng biểu hiện đó.

Nhìn qua không hoạt động và bất động có vẻ giống nhau, nhưng có một khác biệt quan trọng. Bất động dùng cho kết luận, không hoạt động dùng cho quan sát.

Ví dụ: sau khi quan sát một lúc, tối thấy con mèo không cử động. Bình thường nó chạy khắp sân, hoạt động liên tục. Như vậy còn mèo đã nằm bất động một lúc rồi.

Hoặc: có một người bất tỉnh trên đường. Mặc định là người không nằm trên đường + người ở ngoài đường thì có hoạt động. Thấy người không cử động nằm trên đường >> người bất tỉnh.

Với trường hợp quan sát tương tự: vận động viên nằm bất động sau cú ngã từ độ cao sàn tập. Đây là câu kết luận, khác với trường hợp: con báo nằm im, không cử động để tránh con mồi phát hiện. Nếu viết là con báo bất động để tránh con mồi phát hiện. Hoặc vận động viên không cử động sau cú ngã sẽ có chút gì đó không ổn.

Với sự việc như thế này dùng không hay bất - không gây hiểu nhầm vì người nghe có thể hiểu được là đằng nào còn mèo nằm yên. Tuy nhiên với những sự việc mang tính chất diễn biến, đang thực hiện sử dụng danh từ kết luận khiến cho người nghe (với trường hợp này là tôi) cảm giác không quen.

Làm sao để biết là bất ổn định?

Liên quan đến logic và lý luận một chút. Nếu báo cáo là bất ổn định, mặc định của trạng thái là (có) ổn định. Vì biết trạng thái ổn định nên có thể khẳng định trường hợp bất ổn định. Tức là bất ổn định là trạng thái thiếu của ổn định, và đã có những yếu tố để khẳng định để biết trạng thái ổn định.

Một cái diễn tả khác đi từ chi tiết đến kết luận sẽ là: những đặc điểm để kết luận ổn định >> không có đặc điểm của ổn định >> kết luận bất ổn định.

Vậy nếu có nhiều hơn một đặc điểm của ôn định, nhưng khi quan sát chỉ thiếu một đặc điểm, vật kết luận là ổn định hay bất ổn định. Trường hợp này diễn ra quá nhiều, và ví thế, nó trường hợp chúng ta phải chú ý nhiều nhất. Khi thiếu một đặc điểm, mô tả thiếu ổn định, và cụ thể hơn là yếu tố B không ổn định là thông tin quan trọng, cung cấp cho những người liên quan biết đặc trang thái (status) và diễn biến (progress) của hệ thống. Ai cũng muốn kết luận (conclusion) nhưng để có được kết luận phải có thông tin xác nhận (confirm/affirm) điều kiện, chứ không đơn giản là muốn có thông tin cuối cùng.

Một ngày nó tôi lại thấy ai đó nói “phi lôgic”. Cụ thể hơn là một cuộc thảo luận về hiện tượng chưa biết hết. Trong khi chưa thiết lập các điều kiện để gọi (có) logic, hỏi phi logic là không thể kết luận được vì không đủ điều kiện để xác nhận thiếu của các điều kiện để xác nhận logic. Một điều kiện quan trọng là khi hỏi logic và phi logic đã mặc định hệ thống có hai trạng thái: logic và phi logic. Thế nên hỏi thông tin để biết diễn biến và suy luận (dianogsis) và thông tin mang tính chất kết luận cần có lựa chọn. Khi ai hỏi mình kết luận với từ ghép như bất hợp lý, phi lý chẳng hạn, mình sẽ không thể trả lời ngay. Thứ nhất là chưa thiết lập điều kiện/hoặc nói rõ điều kiện (express condition). Thứ hai, tất cả kết luận mà không có điều kiện kèm theo đều sai. Một thông tin chỉ đúng tương đối, nghĩa là kèm với các điều kiện nhỏ để giới hạn kết luận. Phần lớn suy luận chưa logic (có thể logic nếu chú ý) hoặc không logic (vi phạm một số quy tắc logic). Nói phi lô gic là kết luận rất khó vì nó bao gồm chủ ý (intension) vi phạm các nguyên tắc logic. Được dùng tương tự như phi đạo đức, phi pháp.

Có nhất định phải phức tạp thế này ko?

Không. Khi tôi nghe “bất ổn định” tôi hiểu được mức độ ổn định của hệ thống. Sau đó tôi nhiu mày một cái để lựa chọn để tiếp tục hỏi thêm, hay đi ra chỗ thí nghiệm. Cuối cùng tôi đi ra để nghe thêm về tính trạng “bất ổn định” này. “Bất ổn định” dùng theo nghĩa rộng, không cần chính xác là chưa đạt được tính “ổn định”

. Chưa ổn định, không ổn định, bất ổn định mà sắc thái ý nghĩa khác nhau. Nếu công việc liên quan đến quan sát mô tả và trình bày cho cả nhóm, việc thiếu chính xác trong cách dùng từ gây hiểu nhầm. Từ vị trí là một người được cử làm thí nghiệm và báo cáo quan sát, việc báo cáo lại hệ thống “chưa ổn định”, “không ổn định”, “ít ổn định”, “tương đối ổn định”, “bất ổn định”, thậm chí cho sang dùng “phi ổn định” có ảnh hưởng nhiều đến cách các thành viên của nhóm hình dung được vấn đề.

Thứ hai liên quan đến mức độ tin cậy của người đưa thông tin. Nếu thành viên chỉ là người quan sát, việc “kết luận” sẽ đặt ra nhiều câu hỏi hơn câu trả lời. Ví dụ, tại sao lại biết “bất ổn định”, trong khi người này chỉ biết là quan sát liên quan đến hệ thống. Và tự nhiên sẽ có những câu hỏi liên quan đến mức độ tin cậy trong báo cáo vì xu hướng là các thành viên củng cố giả thiết “thành viên này không có thông tin tin cậy” dựa vào phân tích cách dùng từ. Một sự việc nhỏ có thể dẫn đến hậu quả không nhỏ chút nào.

Cách dùng từ, đặt câu hỏi liên quan đến thế nào đến làm việc?

Tình huống: hệ thống trong giai đoạn thí nghiệm, R&D. Chưa có hệ thống tương tự đã hoạt động trong nhóm.

Câu hỏi: “Hệ thống khi nào hoạt động được?”

Không. Đơn giản được hiểu là một câu hỏi mang tính chất lên kế hoạch. Từ khóa ở đây là “khi nào”. Rất quan trọng với người trả lời để không tập trung vào từ “hoạt động” khi trả lời. Tất nhiên “khi nào” vẫn phải gắn với các yếu tố đủ để khẳng định “hoạt động”. Thông thường với trường hợp thế này, câu trả lời của tôi sẽ có 2 mức. Tình huống tốt nhất dựa vào kinh nghiệm cá nhận, những công việc đang hoạt động. Cách trả lời mang tính chất kỹ thuật: hệ thông sẽ hoạt động khi các điều kiệu A, B, C đang làm thực hiện được + một khoảng thời gian vận hành thử.

Có: Nếu người hỏi cũng là người có tham gia cuộc họp thông báo những gói công việc đang thực hiện. Câu hỏi “khi nào ...hệ thống” có những yếu tố tiêu cực của nó. Bởi vì nó bỏ qua yếu tố teamwork (làm việc nhóm), tức là người hỏi biết những công việc nhỏ hơn đang cần thực hiện hoặc tập trung nguồn lực, và thay vì hỏi những yếu tố cần giải quyết, thì hỏi mang tính chất kết luận chung.

Cách hỏi này không liên quan đến sai hay đúng mà là có ích hay không có ích (khác với vô ích). Vì thế, việc đặt câu hỏi và cách ghép từ trong câu cũng liên quan đến truyền đạt thông tin cụ thể (effective communication) trong làm việc nhóm (teamwork).

Khát quát vấn đề

Vấn đề  liên quan đến không, bất, phi thậm chí là vô là liên quan đến khả năng khái quát vấn đề (conceptualization)

Gần đây liên quan đến COVID-19, bạn sẽ tìm thấy nhiều báo tiếng Anh viết “asymptomatic” tức là không có triệu chứng. Asymptomatic tương đương với has not shown any symptoms associated with COVID-19 flu.

Liên quan từ này bạn sẽ có symptomatic. Giữa hai từ này symptomatic có trước, tức là có điều kiện bệnh lý khẳng định bệnh nhân biểu hiện cúm  do SAR-CoV-2. Khi không biểu hiện bệnh lý (onset) nhưng vẫn có khả năng có mềm bệnh thì được gọi là asymptomatic.

Tiếng Anh cũng có một nhóm từ liên quan đến các trạng thái của hệ thống ví dụ: different, indifferent, và not different, hoặc moral, amoral, and immoral. Với 3 từ cuối: đầu tiên sẽ có những quy tắc cơ bản để khẳng định là có đạo đức (moral) chẳng hạn không trôm cắp, lừa gạt, giết người. Nếu vi phạm những nguyên tắc trên gọi là immoral (phi đạo đức). Trạng thái thứ 3 là amoral (không có quan niệm, không quan tâm đến có hay không có đạo đức) cho những người tạm gọi là không bình thường, hoặc vấn đề định danh cho đạo đức khác nhau do nên văn hóa, tín ngưỡng, môi trường giáo dục.

Thế nên câu chuyện nói không, vô bất phi tương đơn giản nhưng đi sau vào mỗi câu chuyện là hàng loạt suy luận và giả định, gỉa thiết. Nếu mục định là đưa thông tin tin cậy, hỗ trợ trong giải quyết công việc chung, việc hiểu và dùng từ chính xác nên được coi là yêu cầu cơ bản.