August 16, 2019

Học, cho đi để nhận lại

Học, cho đi để nhận lại

Nhân tiện có bài đối thoại ở Silicon về khả năng lãnh đạo công ty lớn về công nghệ và thương mại của người Ấn, mình cũng có ít nhiều suy nghĩ về chuyện học.

Mùa hè năm 2015, sau khi mình bảo vệ án tiến sỹ và tiếp tục công việc nghiên cứu sau tiến sỹ (postdoctoral research associate - cộng sự nghiên cứu sau tiến sỹ), mình đề xuất làm thiết bị nuôi tảo tiên tiến (advance photobioreactor). Thiết bị nuôi trong lab (phòng thí nghiệm) hiện tại cũng có thể gọi là tiên tiến với chế độ ánh sáng thay đổi được, phần mềm được xây dựng Windows để điều khiển tắt bật hoặc chạy script (chương trình soạn sẵn) để điều chỉnh chế độ sáng với bóng đèn huỳnh quang. Nuôi tảo sử dụng ánh sáng làm nguồn năng lượng, vì thế mô phỏng thay đổi ánh sáng và thay đổi về tốc độ sinh trưởng, đặc tính sinh lý (physiological status) rất quan trọng. Thông tin này là cơ sở để đánh giá khả năng sinh trưởng và thích ứng với điều kiện thực tế ngoài trời.

Ngoài ra mỗi thiết bị nuôi có thêm một thiết bị điều hòa/sưởi bằng nước để ổn định nhiệt độ. Phần lớn thời gian trong lab, thiết bị này hoạt động ở chế độ chill (làm mát) vì nguồn nhiệt hấp thụ từ ánh sáng và quá trình phản ứng quang học tao ra nhiệt dư.  Mỗi thiết bị nuôi “kẹp” một thiết bị điều hòa có công suất khoảng 800W do ThermoScientific cứ chạy xào xào cả ngày lẫn đêm. Chạy to nhất sau 2 tủ lạnh trong lab, một cái cấp đông đến -18*C, cái còn lại bảo quản mẫu ở +4*C. Hai tủ lạnh này khi có vấn đề về nhiệt độ tăng giảm thì bà quản lý lab (lab manager) của trung tâm đều có email và chart. Tiếp theo là báo cáo sự cố với trưởng nhóm, thường là thầy hướng dẫn của mình (advisor) và cách khắc phục sự cố.

Cái ai cũng sợ là sau khi thu mẫu để cấp đông và chờ nghĩ xem nên làm gì với nó để có kết quả (đa số sinh viên), thì tủ đông mất nhiệt sẽ làm thay đổi trạng thái mẫu thí nghiệm. Vì những thay đổi nhỏ khi thí nghiệm khi mất đông ai cũng có thể nói là mẫu này không đại diện hoặc mất tính toàn vẹn (integrity) và có thể không quan sát được nữa (võ đoán). Trong trung tâm, có một bạn tên là M (là nữ và người Mỹ tóc vàng, mắt xanh), có tinh thần cộng đồng rất cao, các tour giới thiệu, hoặc khi cần lead để làm sạch cái tủ lạnh nhiều mẫu nào đó, M tham gia hăng hái. Trong cuộc họp cuối tuần của trung tâm, M hỏi và phát biểu rất rõ ràng (articulate) khiến cho mỗi khi M nói, mọi người tập trung và lắng nghe hơn hẳn. Rong dài mãi, nhưng cái học ở đây bao gồm cả việc biết các bước xử lý khi có công việc xẩy ra.

Vào cái ngày giữa tháng cuối tháng 8 hay đầu tháng 9 ấy, sau khi mình trình bày xong, M có câu hỏi. Thế là mình dừng lại và rất chăm chú nghe: “Have you considered to collaborate with EE’ guy (Electrical Engineering’ student) for the control unit and LED?”, tức là bạn có cân nhắc hợp tác với sinh viên điện tử, thực ra hội master students, về phần điều khiển và phần ánh sáng sử dụng đèn led.

Với một dự án đa lĩnh vực (interdiciplinary), một người không thể làm tất cả mọi lĩnh vực. Phải có kỹ sư chế tạo, nghiên cứu sinh học, người viết code, người lắp phần cứng, người lo an toàn điện nước, người xin giấy phép. Thậm chí trong một lĩnh vực như nuôi tảo mỗi người cũng làm một việc nhỏ của mình: mình nghiên cứu ảnh hưởng của hóa nước (water chemistry), mà thực chất là pH (độ kiềm, acid của nước) ảnh hưởng đến chuyển khối của CO2 thế nào, có một người khác thì lo hóa chất, làm hấp thụ resin (trao đổi ion), than hoạt tính, người khác nữa thì làm modeling (chạy hô hình). Đấy là chỉ kể đến mảng engineering (kỹ thuật) trong nuôi tảo. Rộng hơn là có nhóm sinh học (chuyên lo giống tảo, điều kiện về nuôi, đặc tính về nhóm), nhóm kỹ thuật (điều kiện nuôi trong thiết bị và chạy máy), nhóm sau thu hoạch (bao gồm tách và chiết xuất chất cần nghiên cứu), nhóm scale-up (mở rộng và đưa ra thị trường).

Kể thế để thấy là chỉ một chủ đề bé tý: nuôi tảo, đã có ty tỷ thứ và có một đội khoảng 5-7 ông giáo sư, ~10 nghiên cứu chính, ~10 sinh viên làm giờ, ~5-7 technical staff với scientist (kỹ thuật viên và nhà khoa học) tham gia. Vấn đề cho đi để học có thể bắt đầu là đây.

Thích nhất khi đi họp, ngoài việc được nghe tranh cãi, là nghe các chuyên gia, có thể gọi là đầu ngành, tranh luận. Được học ở Mỹ, lúc đi họp và appreciate (trân trọng) thời gian đi học quả thật là khó. Một phần vì tương đối boring (nhàm chán) vì có những bài trình bày, rồi chưa kể câu hỏi kiểu bới lông tìm vết, căng hơn nữa là không đồng ý về mặt phương pháp. Các giáo sư và thợ già có thể phán cho một câu xanh rờn kiểu cách này đã có người làm rồi, sao còn làm lại nữa. Sao không thử abcxyz mà lại cách mày làm? Nghiên cứu sinh năm 1, 2 càng nản vì kinh nghiệm làm việc trong nhóm “senior” (lão làng) chưa có, sợ mất mặt. Tiếng Anh thì bập bẹ. Còn đội Mỹ, tiếng Anh ngon thì nhiều đồng chi tương đối là “nhẹ nhàng” không thích tranh luận. Đội học Master thì cũng ko dám nói vì sợ thiếu tầm.

Thế nhưng đến một lúc, đọc paper (là các bài báo khoa học), học các môn chính các thầy dạy, thì vẫn không thể ngấm được. Càng không có nhiều thông tin để phục vụ dự án. Áp dụng từ kiến thức cơ bản cho quá trình nghiên cứu cũng là một cái nghệ khác. Đơn giản là dự án nghiên cứu, nên những thứ mình tìm thì đang nghiên cứu cả. Có dự án nuôi tảo, có thể cùng lĩnh vực, nhưng giống tảo khác, điều kiện nuôi cấy khác, cách tiếp cận hơi khác, dung dịch nuôi cấy hoặc điều kiện khí hậu hơi khác. Mỗi chút hơi một tý đâm ra là khó áp dụng. Cái này quan trọng hơn. Các giáo sư chính là người thuê mình làm việc, nên ý kiến của ông chủ vẫn rất quyết định. Khoa học còn dài, ra paper (ra bài báo khoa học) cũng dài. Thầy hướng dẫn hàng tuần/ tháng quan trọng hơn. Cứ 2 tuần còn có stipend để lo chi phí sinh hoạt. Tóm lại béo ra là cứ phải nghe và đoán ý thầy xem thầy muốn làm thế nào đã.

Thế nên đến năm thứ 3 trở đi, mỗi trong niềm vui đi họp nhóm (group meeting) là trình bày kết quả và chờ các thầy tranh luận, đánh giá. Phần lớn là trình bày đi trình bày lại kết quả thí nghiệm mà đã biết là khả năng fail (hỏng là cao). Hoặc đã fail rồi nhưng thầy bảo thử lại xem thế nào, hoặc thay đổi cái gì đó. Phổ biến hơn, thì thầy chỉ trầm ngâm, hỏi vài câu hỏi rồi chuyển sang bài trình bày của sinh viên khác. Bạn ôm balo trở về và tính xem mình làm gì với nghiên cứu của mình, làm gì với cuộc đời nghiên cứu sinh vẻ vang và luôn thất bại trong thí nghiệm.

Rồi thì cũng đến lúc, không những trình bày kết quả, mà phải học cách trình bày chi tiết, chia sẻ những chi tiết có thể bị đánh giá là tầm thường, hoặc kết quả xấu - là kết quả ai nhìn vào cũng biết là mất công tốn sức và không advance (tiến thêm) một chút gì trong nghiên cứu đang làm. Rồi bạn phải học cách hỏi thầy giáo xem thầy có bổ sung gì không, rồi hỏi xem nếu là thầy, thì thầy làm thế nào. Một hai lần gì đó, thầy trả lời “beat me!” nghĩa là tao chịu! Có những lúc như thế mới biết cái frontier (ranh giới giữa biết và chưa biết) trong khoa học ở đâu. Vì hỏi câu gì mà thầy cũng biết thì chứng tỏ chưa phải nghiên cứu mà chỉ là thực hành lại. Mà hỏi cái gì thầy cũng bảo mày thử đi thì rất ảnh hưởng đến tâm lý rất nhiều, vì thử phần lớn là sai, không biết có đủ kiên nhẫn để có một ngày bớt sai viết báo.

Không phải ai dũng cảm trình bày hết kết quả, và trình bày một cách đều đặn. Nhóm mình cứ 2 tuần là họp nhóm nghiên cứu 1 lần. Mỗi tuần họp cuối tuần trung tâm (weekly meeting) thì sẽ được nghe một trình bày từ sinh viên dài hơn. Khi đến năm thứ 4, 5, mỗi NCS “tự nguyện” chọn lịch và trình bày. Đó là một cái mốc để mỗi người càng có động lực để làm và “cho ra kết quả” khả quan. Khi chấp nhận trình bày tất cả kết quả nghiên cứu, và chấp nhận bị “bới lông” (crique) thì mình lại có thêm cơ hội để nhìn những thứ mình làm theo một hướng khác. Hơn một lần, thầy nói rất khó để tách ảnh hưởng của pH và nồng độ các-bon vô cơ đến tốc độ sinh trưởng của tảo, nhưng nó rất quan trọng. Rất nhiều lần vào năm thứ 3, những người mình nói chuyện nói điều đó là không thể. Hai thứ này rất “confounding” (liên quan đến nhau theo kiểu mix up và đồng thời). Bài báo đầu tiên của mình chính là nguyên lý và kết quả, cách tách ảnh hưởng của pH và các bon để nghiên cứu sinh trưởng của tảo. Keo này là mình lấy được nhiều, một bài báo tốt, và sau đó đủ điều kiện để bảo vệ luận án.

Trở lại câu chuyện khi M hỏi mình: mình bảo nếu được hợp tác thì tốt quá, nhưng mà dựa vào cách thực hiện gần đây thì tao không kiên nhẫn lắm. Tao nghĩ lựa chọn hợp tác giữa các lĩnh vực, và tự phát triển, cạnh tranh công bằng là hai lựa chọn, và có điểm yếu điểm mạnh của nó. M không đồng ý lắm và biểu hiện “concern” kiểu như mình chắc một chứng, hơi bị cứng đầu. À, kể từ ngày đó, áp lực sợ thất bại khiến mình phải cố gắng gấp đôi. Một năm sau thì cũng làm được 30% của phiên bản “advance bioreactor” như mong muốn. Ánh sáng được cung cấp bởi chip LED có hiệu năng từ điện ra ánh sáng cao hơn. Hệ thống điều khiển pH tự mua và tự lắp. Trong khi đó thí nghiệm vẫn thất bại như thường với 15-16 thí nghiệm thất bại nhưng vẫn ra được một bài báo về kiểm soát sinh khối tảo bằng cảm biến đo độ đục giá rẻ. Nhiều lúc cứ phải liều mới được nhiều. Còn cơ bản liều là dấn thân, rủi ro.

Thế nên cái gọi là học, ít nhất là trường hợp của mình là chỉ ra cái dốt cái dở của mình cho người ta biết, để người ta chê. Lịch sự hơn chút thì gọi là "being humble", còn thực chất là "I didn't know better". Mình làm được điều này vì mình học và thực hành trong một trường an toàn để thử sai và sửa sai. Bên Nhân sự hay gọi là "safe environment". Tức là mình sai thì không bị bạn bè cười và chê (let down), không bị loại ra khỏi dự án (kick out), không bị chuyển thành câu chuyện làm qùa (talk bad behind someone's back). Biết mình dốt ở đâu thì biết sửa chữa dễ hơn. Cái săm mà xì hơi thì vá cũng dễ. Nhỉ.